Bệnh Viện FV - Niềm tin vào Y Đức

Mổ Bắt Con Theo Chương Trình

MỔ BẮT CON LÀ GÌ?

Sinh mổ, còn được gọi là mổ bắt con, là phương pháp phẫu thuật để đưa em bé ra ngoài qua một vết rạch trên bụng mẹ và qua một vết rạch thứ hai trên tử cung của người mẹ. Mổ bắt con theo chương trình phải được lên kế hoạch cẩn thận trước khi sản phụ chuyển dạ.

Mổ bắt con được chia thành hai nhóm: mổ bắt con theo yêu cầu của sản phụ và mổ bắt con theo chỉ định.

KHI NÀO SẢN PHỤ NÊN MỔ BẮT CON?

Sản phụ khi cân nhắc quyết định mổ bắt con, dù vì lý do gì, cũng cần được thông báo đầy đủ các thực tế liên quan, bao gồm những khó khăn trong quá trình hồi phục. Sản phụ nên biết rằng mổ bắt con vẫn tiềm ẩn nguy cơ và dù đôi khi không lớn, nhưng trong một số trường hợp những nguy cơ này cũng trở nên đáng kể. Sản phụ mổ bắt con sẽ hồi phục sau sinh lâu hơn sản phụ sinh thường.

Mổ bắt con theo yêu cầu (theo chương trình và không có chỉ định y khoa) chỉ được lên lịch khi thai kỳ đã được 39 tuần trở lên để đảm bảo phổi của thai nhi được phát triển đầy đủ. Nếu mổ trước thời gian này, thai nhi sẽ có nguy cơ bị suy hô hấp cao. Theo công bố của tạp chí Y khoa New England vào năm 2009, các ca sinh mổ theo yêu cầu được thực hiện sau 37 hoặc 38 tuần của thai kỳ có nguy cơ biến chứng nghiêm trọng cao hơn gấp bốn lần so với các trường hợp được thực hiện sau 39 tuần. Nghiên cứu cho thấy những lần sinh chỉ còn thiếu một, hoặc hai ba ngày mới đủ 39 tuần của thai kỳ cũng có đến 21% nguy cơ có biến chứng.

Hầu hết phụ nữ đã từng sinh mổ đều có thể sinh thường an toàn trong lần sinh sau.

NHỮNG TRƯỜNG HỢP CẦN CHỈ ĐỊNH MỔ BẮT CON

Mổ bắt con theo chỉ định (theo chương trình và có chỉ định y khoa) thường được lên kế hoạch theo yêu cầu của bác sĩ khi sản phụ bị, hoặc có nguy cơ cao về các vấn đề y khoa khiến việc sinh nở có thể gây hại cho mẹ hoặc con. Những trường hợp cần chỉ định mổ bắt con là:

  • Ngôi mông (chân quay xuống): Nên thực hiện thủ thuật ngoại xoay thai đối với sản phụ mang đơn thai ngôi mông không có biến chứng ở tuần thứ 36 của thai kỳ. Đây là thủ thuật trong đó bác sĩ dùng hai bàn tay đặt lên bụng mẹ bao quanh em bé. Em bé được dịch chuyển theo hướng lên trên, xa khỏi khung chậu và được xoay một cách nhẹ nhàng dần dần từng bước một đến khi em bé nằm ngang và cuối cùng là có được ngôi đầu, thuận tiện cho việc sinh tự nhiên. Không sử dụng thủ thuật này cho sản phụ đang chuyển dạ, sản phụ có sẹo tử cung hoặc tử cung có bất thường, bào thai có nguy cơ (suy thai), vỡ màng ối, chảy máu âm đạo hoặc đang có bệnh lý âm đạo. Sản phụ mang đơn thai ngôi mông không có biến chứng đã đến kỳ sinh nở chống chỉ định với thủ thuật ngoại xoay thai, hoặc đã áp dụng thủ thuật này nhưng không thành công nên cho mổ bắt con để giúp giảm tỉ lệ tử vong chu sinh và tỉ lệ mắc bệnh sơ sinh.
  • Đa thai: Với trường hợp song thai không có biến chứng đã đến kỳ sinh nở, không phải lúc nào cũng chỉ định mổ bắt con. Với trường hợp sản phụ mang song thai trong lần sinh đầu tiên, thai nhi không phải là ngôi đầu thì nên khuyến cáo mổ bắt con theo chương trình.
  • Thai to (thai nhi trên 4 kg): thường cho sinh mổ bắt con theo chương trình.
  • Nhau tiền đạo: Sản phụ có nhau che phủ một phần hoặc hoàn toàn tử cung (nhau tiền đạo mức độ nhẹ hoặc nặng) nên cho mổ bắt con theo chương trình.
  • Thai nhi có vấn đề về sức khỏe: Đôi khi mổ bắt con lại an toàn hơn đối với những thai nhi có vấn đề về sức khỏe, chẳng hạn như có quá nhiều dịch trong não (não úng thủy)
  • Đối với các bà mẹ bị bệnh mãn tính mà bệnh này có thể trở nặng khi sinh nở, như tiểu đường, cao huyết áp hoặc bệnh tim mạch, bác sĩ có thể cho sinh mổ theo chương trình.
  • Để ngăn ngừa lây nhiễm HIV từ mẹ sang con thì phải thực hiện mổ bắt con cho những sản phụ không điều trị bằng bất cứ liệu pháp chống vi-rút sao chép ngược nào, hoặc đang điều trị bằng liệu pháp này nhưng có tải lượng vi-rút ở mức 400 bản sao/ ml hoặc hơn.
  • Sản phụ bị nhiễm vi-rút sinh dục herpes simplex nguyên phát (HSV) xảy ra trong quý thứ ba của thai kỳ nên được mổ bắt con theo chương trình vì sẽ giúp giảm nguy cơ nhiễm HSV ở trẻ sơ sinh.
  • Mổ bắt con lần trước: Tùy vào kiểu vết rạch tử cung và những nhân tố khác, thông thường sản phụ có thể sinh bằng ngả âm đạo sau khi đã được mổ bắt con trong lần sinh trước. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, bác sĩ có thể đề nghị mổ bắt con trong lần sinh này.

NHỮNG NGUY CƠ KHI MỔ BẮT CON

Sản phụ được mổ bắt con phục hồi chậm hơn sản phụ sinh qua ngả âm đạo. Thông thường, sản phụ có thể phải nằm viện từ ba đến bốn ngày sau khi mổ bắt con. Và phải mất từ bốn đến sáu tuần để phục hồi hoàn toàn. Tương tự những loại đại phẫu khác, mổ bắt con cũng có nguy cơ biến chứng cao hơn.

Những nguy cơ đối với em bé:

  • Những vấn đề hô hấp: Em bé sinh mổ có nhiều khả năng bị cơn thở nhanh thoáng qua – một vấn đề về hô hấp cho thấy nhịp thở của bé nhanh một cách bất thường trong vài ngày đầu sau khi sinh. Nếu mổ bắt con được thực hiện trước tuần thứ 39 của thai kỳ, hoặc không có bằng chứng cho thấy phổi của em bé phát triển đầy đủ thì có thể làm tăng nguy cơ gặp những vấn đề khác về hô hấp đối với em bé, kể cả hội chứng suy hô hấp – một tình trạng gây khó thở cho em bé.
  • Tổn thương do mổ: Dù hiếm gặp, tình cờ bác sĩ có thể cắt phạm vào da em bé trong khi mổ.

Những nguy cơ đối với mẹ:

  • Viêm và nhiễm trùng tử cung: Tình trạng này, còn được gọi là viêm nội mạc tử cung, có thể gây sốt, dịch âm đạo có mùi hôi và đau tử cung.
  • Chảy máu nhiều hơn: Sản phụ sinh mổ bắt con có thể mất nhiều máu hơn so với sinh qua ngả âm đạo. Tuy nhiên, rất hiếm trường hợp cần phải truyền máu.
  • Phản ứng với phương pháp gây mê (tê): Có thể xảy ra những phản ứng phụ đối với bất cứ phương pháp gây mê nào. Sau khi gây tê ngoài màng cứng hoặc gây tê tủy sống – những phương pháp gây mê phổ biến đối với mổ bắt con – dù hiếm gặp nhưng sản phụ có khả năng bị nhức đầu nặng khi đứng thẳng người trong những ngày đầu sau sinh.
  • Cục máu đông: Sinh mổ có nguy cơ phát triển cục máu đông trong tĩnh mạch cao hơn so với sinh qua ngả âm đạo, đặc biệt là ở hai chân hoặc những cơ quan vùng chậu. Nếu cục máu đông di chuyển đến phổi (thuyên tắc phổi) thì có thể gây nguy hiểm đến tính mạng người mẹ. Các bác sĩ sẽ từng bước ngăn chặn cục máu đông. Sản phụ cũng có thể tự hỗ trợ bằng cách nhanh chóng đi bộ nhẹ nhàng thường xuyên sau khi sinh mổ.
  • Nhiễm trùng vết mổ: Có khả năng bị nhiễm trùng tại vết mổ hoặc xung quanh vết mổ.
  • Tổn thương do mổ: Dù hiếm gặp, nhưng những tổn thương do mổ gây ra cho những cơ quan gần tử cung như bàng quang, có thể xảy ra khi mổ bắt con. Nếu điều này xảy ra, có thể cần phải thực hiện thêm cuộc mổ khác.
  • Tăng rủi ro cho những lần mang thai sau: Sau một lần mổ bắt con, người mẹ có nguy cơ cao bị biến chứng trong những thai kỳ tiếp theo như chảy máu và những vấn đề về nhau thai so với sau khi sinh qua ngả âm đạo. Nguy cơ vỡ tử cung cũng cao hơn dù biến chứng này hiếm khi xảy ra.

QUY TRÌNH THỰC HIỆN MỔ BẮT CON THEO CHƯƠNG TRÌNH

Một cuộc mổ bắt con thường kéo dài chưa đến một giờ đồng hồ. Với hầu hết các trường hợp, chồng hoặc người thân có thể đồng hành cùng sản phụ trong suốt cuộc mổ.

Vài ngày trước khi được tiến hành mổ bắt con, sản phụ sẽ được khám tiền mê.

Tại bệnh viện trước và trong quá trình phẫu thuật:

  • Thông thường, sản phụ sẽ nhập viện một đêm trước khi mổ bắt con. Nữ hộ sinh sẽ yêu cầu sản phụ tắm bằng xà phòng diệt khuẩn vào đêm hôm trước và buổi sáng của ngày mổ. Tắm bằng xà phòng diệt khuẩn giúp giảm nguy cơ nhiễm trùng. Không cạo lông mu vào ngày trước của cuộc mổ. Không ăn hoặc uống bất cứ thứ gì trong vòng sáu tiếng đồng hồ trước giờ mổ. Ngay trước cuộc mổ, nhân viên y tế sẽ làm sạch vùng bụng của sản phụ. Có thể sản phụ sẽ được đặt ống thông để rút nước tiểu. Sản phụ cũng sẽ được truyền dịch và thuốc.
  • Gây mê: Hầu hết các ca mổ bắt con đều được thực hiện dưới gây tê, chỉ làm tê phần dưới cơ thể, sản phụ vẫn tỉnh táo trong suốt cuộc mổ, có thể nghe và nhìn thấy em bé ngay sau khi sinh. Gây tê tủy sống là lựa chọn phổ biến, trong đó thuốc giảm đau được tiêm trực tiếp vào túi quanh tủy sống. Gây tê ngoài màng cứng cũng là một lựa chọn, trong đó thuốc giảm đau được tiêm vào vùng lưng dưới ngay bên ngoài túi ở quanh tủy sống. Đôi khi cần phải gây mê toàn thân. Khi được gây mê toàn thân, sản phụ sẽ không nhìn thấy, không có cảm giác hoặc nghe thấy bất cứ điều gì xảy ra khi sinh.
  • Vết mổ ở bụng: Bác sĩ sẽ thực hiện một đường rạch qua thành bụng. Đường rạch này thường nằm ngang gần bờ trên của vùng lông mu (đường mổ bikini). Nếu cần phải rạch một đường rộng hơn hoặc em bé cần được đưa ra thật nhanh, bác sĩ có thể thực hiện một đường rạch dọc từ phía dưới rốn đến phía trên xương mu.
  • Vết mổ ở tử cung: Sau khi rạch ở bụng, bác sĩ sẽ thực hiện một đường rạch ở tử cung. Đường rạch tử cung thường là đường nằm ngang chạy dài theo đoạn dưới của tử cung (đường mổ ngang thấp). Những kiểu rạch tử cung khác có thể được sử dụng tùy vào vị trí ngôi thai bên trong tử cung và cũng tùy thuộc vào những biến chứng nếu có như nhau tiền đạo.
  • Sinh em bé: Nếu được gây tê ngoài màng cứng hoặc gây tê tủy sống, sản phụ có thể cảm nhận được một số cử động khi bác sĩ nhẹ nhàng đưa em bé ra khỏi tử cung, nhưng người mẹ không cảm thấy đau. Bác sĩ sẽ làm sạch đàm nhớt trong miệng và mũi em bé, sau đó kẹp và cắt dây rốn. Nhau thai được lấy ra khỏi tử cung và các vết mổ được khâu lại.
  • Thực hiện ngay việc chăm sóc bé theo phương pháp “da kề da”, đây là một phương pháp tự nhiên được thao tác bằng cách đặt phần ngực của bé sơ sinh tiếp xúc với phần ngực của mẹ, quấn bé bằng một tấm chăn để giữ cho bé được ấm và thoáng. Tiếp tục thực hiện như trên bất cứ lúc nào có thể (nếu điều kiện của mẹ cho phép).
  • Em bé được chăm sóc tại một nơi ấm nhất trong Phòng mổ. Tại đây, bé được kiểm tra, lau sạch, đeo vòng có ghi rõ tên, cân trọng lượng, đo chiều dài và được quấn khăn. Em bé được đưa về với mẹ khi mẹ được đưa lên khu nội trú.

Sau khi phẩu thuật

  • Sản phụ được theo dõi vài tiếng đồng hồ tại phòng hồi sức trước khi được đưa về phòng .
  • Sau phẫu thuật, sản phụ được đặt ống thông tiểu và truyền dịch trong vòng 24 giờ đầu tiên hoặc lâu hơn tùy từng trường hợp.
  • Đôi khi, sản phụ được đặt ống dẫn lưu nhỏ dưới thành bụng trong vài ngày.
  • Sản phụ được sử dụng thuốc chống đông máu để ngăn ngừa cục máu đông.
  • Vết mổ ở bụng sẽ đau trong vài ngày đầu. Bác sĩ có thể cho sản phụ uống thuốc giảm đau sau khi thuốc tê hoặc thuốc mê hết tác dụng.
  • Sau khi sinh mổ, sản phụ được khuyến khích đứng lên và đi lại. Việc di chuyển giúp sản phụ hồi phục nhanh, ngăn ngừa táo bón và tránh hình thành những cục máu đông nguy hiểm.
  • Hai ngày sau mổ, sản phụ có thể thực hiện chế độ ăn bình thường.
  • Trong thời gian nằm viện, nhân viên y tế sẽ theo dõi vết mổ nhằm sớm phát hiện các dấu hiệu nhiễm trùng. Họ cũng theo dõi việc di chuyển của sản phụ, lượng nước sản phụ uống cũng như theo dõi chức năng của bàng quang và ruột.
  • Sự tiếp xúc giữa mẹ và bé (da kề da): Bệnh viện khuyến khích người mẹ thực hiện tiếp xúc da kề da với em bé bởi hành động này giúp tạo ra mối dây liên kết giữa mẹ và bé, tạo thuận lợi cho bé bú sữa mẹ và giúp bé ít khóc hơn.
  • Cho con bú: Những sản phụ sinh mổ nên cho con bú sữa mẹ càng sớm càng tốt ngay sau khi sinh.
  • Thông thường sản phụ sẽ được xuất viện vào ngày thứ ba sau mổ.

VỀ NHÀ

Vết mổ sẽ lành trong khoảng thời gian từ bốn đến sáu tuần. Người mẹ thường có cảm giác mệt mỏi và khó chịu. Trong thời gian hồi phục, mẹ nên:

  • Nghỉ ngơi càng nhiều càng tốt. Cố gắng sắp xếp đồ dùng của hai mẹ con trong tầm với. Trong những tuần đầu tiên, tránh nâng vật nặng ở tư thể ngổi và cũng không mang bất cứ vật gì nặng hơn em bé.
  • Chăm sóc vết mổ ở bụng: Giữ đúng tư thế khi đứng và đi. Giữ chặt bụng gần vết mổ khi có những cử động bất ngờ như ho, nhảy mũi hoặc cười. Hãy sử dụng gối hoặc khăn cuộn tròn đệm lên bụng khi cho bé bú.
  • Uống nhiều nước: Uống nước và các loại đồ uống khác giúp bù nước bị mất khi sinh và khi cho con bú, cũng như ngăn ngừa táo bón.
  • Uống thuốc khi cần: Bác sĩ có thể kê thuốc giảm đau. Hầu hết các loại thuốc giảm đau đều an toàn cho các mẹ đang cho con bú.
  • Mẹ nên chờ từ ba đến bốn tuần trước khi sinh hoạt tình dục trở lại.
  • Mẹ có thể tắm vòi hoa sen hoặc tắm bồn khi vết mổ không còn bị hở. Sử dụng xà phòng dịu nhẹ để rửa vết mổ một cách nhẹ nhàng và cẩn thận lau khô vết mổ.

Liên lạc với bác sĩ ngay trong trường hợp:

  • Có bất cứ dấu hiệu nhiễm trùng như sốt cao hơn 38°C, đau nhiều ở bụng, hoặc đỏ, sưng và chảy dịch tại vết mổ.
  • Đau vú kèm theo vú bị đỏ hoặc sốt.
  • Dịch âm đạo có mùi hôi.
  • Tiểu buốt.
  • Chảy máu thấm ướt một băng vệ sinh trong vòng một giờ hoặc thấy có những cục máu đông lớn.
  • Đau hoặc sưng chân.

Ngay cả khi không có vấn đề gì, người mẹ nên gặp bác sĩ khoa sản để tái khám khoảng một tháng sau khi xuất viện.

KHI NÀO CÓ THỂ SINH CON TIẾP THEO SAU LẦN SINH MỔ?

Khoảng thời gian giữa hai lần mang thai là tuỳ vào quyết đinh của người mẹ, mặc dù có bằng chứng cho thấy sẹo tử cung sẽ ổn định hơn theo thời gian. Các nghiên cứu khảo sát khoảng thời gian khác nhau giữa các lần mang thai được phân loại từ “dưới sáu tháng” cho đến “hơn hai năm”. Nguy cơ vỡ tử cung hay bục sẹo vẫn rất thấp dù là trong khoảng thời gian ngắn, nhưng khoảng thời gian dưới sáu tháng giữa hai lần mang thai có nguy cơ cao nhất. Tuy nhiên, đối với hầu hết các trường hợp, rủi ro là không đáng kể và người mẹ tiếp tục mang thai trong khoảng thời gian ngắn vẫn không gặp trở ngại gì.

Khoảng cách giữa các lần sinh con là quyết định cá nhân, cần cân nhắc đến nhiều vấn đề bên cạnh thống kê tỷ lệ vỡ tử cung sau sẹo mổ. Quyết định này của bạn còn tùy thuộc vào các yếu tố quan trọng khác như tuổi tác, khả năng thụ thai, tình trạng sức khỏe chung và sự sẵn sàng của bạn.

Có rất nhiều bà mẹ đã sinh thường một cách hoàn hảo sau khi sinh mổ dù khoảng cách giữa các lần sinh rất ngắn. (ý là sinh thường sau khi sinh mổ vào lần trước???)

Bệnh viện FV khuyến cáo nên chờ ít nhất sáu tháng trước khi mang thai em bé tiếp theo và không có bằng chứng y khoa nào ủng hộ việc chờ đến một năm.

KHẢ NĂNG SINH QUA NGẢ ÂM ĐẠO SAU LẦN SINH MỔ BẮT CON (VBAC)

Có tới 80% phụ nữ sinh mổ có thể sinh qua ngả âm đạo thành công ở lần sinh tiếp theo.

Tiêu chuẩn để xem xét VBAC là:

  • Không có quá hai lần mổ bắt con với vết mổ ngang đoạn dưới tử cung.
  • Không có sẹo khác hay dị dạng tử cung, hay tiền sử rách tử cung.
  • Lý do mổ bắt con lần trước không lặp lại ở lần này
  • Không có vấn đề nghiêm trọng về sức khoẻ
  • Em bé kích thước bình thường
  • Em bé ở tư thế ngôi đầu

VBAC không được khuyến khích trong những trường hợp:

  • Song thai
  • Mẹ bị tiểu đường
  • Mẹ bị cao huyết áp

TỈ LỆ GẶP BIẾN CHỨNG VỠ TỬ CUNG

Có nhiều nghiên cứu về sinh thường sau mổ bắt con (VBAC), và có rất nhiều số liệu thống kê nghiên cứu về nguy cơ vỡ tử cung và bục sẹo vết mổ cũ.

Theo hướng dẫn của NICE (Viện y tế Quốc gia về Chất lượng Điều trị Anh Quốc), tỉ lệ vỡ tử cung trong VBAC là 0.35%, theo thống kê thực hiện năm 2000. Theo Hiệp Hội Sản Phụ Khoa Hoa Kỳ (ACOG), nếu bạn có đường mổ ngang đoạn dưới tử cung, nguy cơ vỡ tử cung khi sinh qua đường âm dạo là 0.2 đến 1.5%, tức có khoảng 1 trường hợp vỡ tử cung trong 500 trường hợp. Vài nghiên cứu ghi nhận rằng tỉ lệ vỡ tử cung tăng ở những phụ nữ được giục sinh, tuy nhiên gần đây, ACOG lại cho rằng VBAC an toàn hơn là mổ bắt con lặp lại, và VBAC ở sản phụ đã có hơn một lần mổ bắt con trước đây không làm tăng nguy cơ vỡ tử cung.

Người ta lo ngại rằng mổ bắt con nhiều lần sẽ gây ra sẹo tử cung yếu hơn và do đó tăng tỉ lệ vỡ tử cung. Tuy nhiên không có bằng chứng nghiên cứu nào ủng hộ lý thuyết này và trong một bài báo trên tạp chí British Medical Journal năm 1991 đặt câu hỏi: “Mổ chọn lọc sau hai lần mổ – Bằng chứng ở đâu?” cơ bản đi đến kết luận rằng không có bất kỳ bằng chứng nào ủng hộ lý thuyết đó.

Năm 2007, Hiệp Hội Sản Phụ Khoa Anh Quốc đã nhận định như sau: “Phụ nữ có tiền sử hai lần mổ bắt con với vết mổ ngang đoạn dưới tử cung, đang có thai đủ tháng không biến chứng, không có chống chỉ định với sinh qua ngả âm đạo, được bác sĩ Sản khoa tư vấn đầy đủ, có thể được xem xét VBAC theo chương trình“.

Tóm lại, vỡ tử cung vẫn là một biến chứng hiếm gặp và hầu hết phụ nữ vẫn có thể sinh qua ngả âm đạo bình thuờng dù đã có một hay thậm chí hai lần mổ bắt con trước đó.

Tài Liệu Tham khảo: NICE Guidelines 2011 (National Institute for Health and Care Excellence) http://www.nice.org.uk/guidance/CG132/chapter/1-Guidance