Ngày 17/10/2026, tại Khách sạn Sheraton Sài Gòn, Bệnh viện FV tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề “Kỷ nguyên mới trong điều trị ung thư đường tiêu hóa: “Những đột phá trong phẫu thuật xâm lấn tối thiểu, phẫu thuật robot và điều trị đa chuyên khoa”. Chương trình với sự tham gia báo cáo của các chuyên gia trong nước và quốc tế thuộc lĩnh vực ngoại khoa, tiêu hóa và ung bướu thu hút hơn 500 người tham dự.

ThS.BSCKII. Phan Văn Thái – Trưởng khoa Ngoại Tổng quát, Bệnh viện FV đại diện phát biểu khai mạc
Hội thảo tập trung cập nhật những tiến bộ trong phẫu thuật robot, phẫu thuật nội soi và phối hợp đa chuyên khoa, với sự tham dự của các chuyên gia:
- ThS.BS. James Ngu Chi Yong – Bác sĩ phẫu thuật cấp cao, Khoa Ngoại Tổng quát, Bệnh viện Đa khoa Changi, Singapore
- ThS.BSCKII. Phan Văn Thái – Trưởng khoa Ngoại Tổng quát, Bệnh viện FV
- TS.BS. Đoàn Ngọc Giao – Trưởng Trung tâm Phẫu thuật Robot FV da Vinci, Bệnh viện FV
- BSCKII. Bùi Lê Phước Thu Thảo – Trưởng Trung tâm Điều trị Ung thư Hy Vọng, Bệnh viện FV
- ThS.BSCKII Ngô Việt Thắng – Bác sĩ điều trị cấp cao, Khoa Ngoại Tổng quát, Bệnh viện FV

Các chuyên gia trong nước và quốc tế cùng cập nhật những tiến bộ trong điều trị ung thư tiêu hóa tại hội thảo
Các nội dung không chỉ đề cập đến kỹ thuật phẫu thuật mà còn hướng đến mục tiêu nâng cao hiệu quả điều trị, cải thiện khả năng phục hồi và bảo tồn chất lượng sống cho người bệnh.
Phẫu thuật Robot: Những khác biệt đáng chú ý sau mổ
Trong phẫu thuật ung thư đại trực tràng, việc thao tác chính xác tại những vùng giải phẫu sâu là một thách thức lớn. ThS.BS. James Ngu Chi Yong – Bác sĩ phẫu thuật cấp cao, Khoa Ngoại Tổng quát, Bệnh viện Đa khoa Changi, Singapore chia sẻ dữ liệu so sánh phẫu thuật Robot với phẫu thuật nội soi truyền thống, ghi nhận lượng máu mất trong phẫu thuật cắt trước trực tràng là 7,5 ml so với 175 ml. Thời gian bắt đầu ăn uống trở lại lần lượt là 14 giờ và 52 giờ; thời gian phục hồi nhu động ruột là 27 giờ và 53,5 giờ.
Ở phẫu thuật cắt nửa đại tràng phải, tỷ lệ biến chứng được báo cáo là 20% với phẫu thuật Robot, so với 40% ở nhóm nội soi; thời gian nằm viện của nhóm Robot là 4 ngày.
Những số liệu này cho thấy tiềm năng của công nghệ Robot trong việc hỗ trợ thao tác chính xác và cải thiện một số chỉ số phục hồi sau mổ. Tuy nhiên, lựa chọn phương pháp vẫn cần dựa trên tình trạng bệnh, độ phức tạp của ca mổ và đánh giá chuyên môn của ê-kíp điều trị.

ThS.BS. James Ngu Chi Yong, Bệnh viện Đa khoa Changi, Singapore, chia sẻ kinh nghiệm ứng dụng phẫu thuật Robot trong điều trị ung thư đại trực tràng.
Ung thư dạ dày: Tối ưu hóa nạo hạch với sự hỗ trợ của Robot
Nạo hạch D2 là một thành phần quan trọng trong phẫu thuật triệt căn ung thư dạ dày, đòi hỏi phẫu thuật viên thao tác chính xác quanh các cấu trúc mạch máu quan trọng.
Trong báo cáo tại hội thảo, ThS.BSCKII. Phan Văn Thái – Trưởng khoa Ngoại Tổng quát, Bệnh viện FV phân tích vai trò của kỹ thuật nạo hạch D2 và tiềm năng ứng dụng robot trong những thao tác phức tạp. Theo dữ liệu được trình bày, nạo hạch D2 được ghi nhận có liên quan đến việc giảm tỷ lệ tử vong từ 48% xuống 37% so với nạo hạch D1 trong nghiên cứu được dẫn.
Dữ liệu so sánh phẫu thuật robot với phương pháp đối chứng cũng ghi nhận OR 0,49 đối với biến chứng chu phẫu và HR 0,546 đối với tái phát trong 3 năm. Đây là những chỉ số tương đối, cần được diễn giải theo thiết kế và kết quả thống kê của nghiên cứu gốc.
Báo cáo nhấn mạnh vai trò của kỹ thuật phẫu thuật phù hợp trong kiểm soát ung thư, đồng thời cho thấy tiềm năng của robot trong việc hỗ trợ các thao tác đòi hỏi độ chính xác cao.

ThS.BSCKII. Phan Văn Thái, Trưởng khoa Ngoại Tổng quát FV, trình bày về phẫu thuật Robot và vai trò của nạo hạch D2 trong điều trị ung thư dạ dày.
Phẫu thuật thực quản phức tạp: Công nghệ hỗ trợ xử trí những ca khó
Phẫu thuật thực quản có độ khó cao do cơ quan này nằm sâu trong lồng ngực, gần nhiều mạch máu và cấu trúc quan trọng. Thách thức càng lớn ở bệnh nhân có tiền sử đa chấn thương, viêm hạch lao, dính nhiều hoặc biến đổi giải phẫu.
Từ các ca lâm sàng được chia sẻ, TS.BS. Đoàn Ngọc Giao – Trưởng Trung tâm Phẫu thuật robot FV da Vinci, Bệnh viện FV phân tích vai trò của phẫu thuật Robot trong việc hỗ trợ quan sát và thao tác tại những vùng khó tiếp cận. Lượng máu mất trong các trường hợp được báo cáo dao động từ 50–200 ml.
Kết quả này cung cấp góc nhìn thực tiễn về ứng dụng Robot trong các ca mổ phức tạp. Tuy nhiên, hiệu quả điều trị cần được đánh giá toàn diện qua biến chứng, khả năng hồi phục và diễn biến sau phẫu thuật, bên cạnh lượng máu mất.

TS.BS. Đoàn Ngọc Giao, Trưởng Trung tâm Phẫu thuật Robot FV da Vinci, chia sẻ kinh nghiệm xử trí các ca phẫu thuật thực quản phức tạp.
Điều trị ung thư trực tràng: Hướng đến kiểm soát bệnh và bảo tồn cơ quan
Trong điều trị ung thư trực tràng, quyết định điều trị cần cân bằng giữa khả năng kiểm soát bệnh và chất lượng sống lâu dài. BSCKII. Bùi Lê Phước Thu Thảo – Trưởng Trung tâm Điều trị Ung thư Hy Vọng, Bệnh viện FV nhấn mạnh vai trò của hội chẩn đa chuyên khoa (MDT), giúp các chuyên gia cùng đánh giá giai đoạn bệnh, nguy cơ tái phát và lựa chọn chiến lược phù hợp cho từng bệnh nhân.
Theo số liệu được trình bày, tỷ lệ sống còn toàn bộ sau 3 năm đạt 90,5% trong nhóm hoặc bối cảnh có MDT, so với 78,1% ở nhóm đối chứng.
Một hướng tiếp cận đáng chú ý khác là điều trị tân bổ trợ toàn phần (TNT), trong đó hóa trị và hóa xạ trị được bố trí trước phẫu thuật theo phác đồ phù hợp. Với những bệnh nhân ung thư trực tràng đạt đáp ứng lâm sàng hoàn toàn, bác sĩ có thể cân nhắc chiến lược theo dõi chủ động (Watch & Wait) thay vì phẫu thuật ngay.
Phương pháp này mở ra cơ hội bảo tồn trực tràng cho một số bệnh nhân, nhưng đòi hỏi lựa chọn nghiêm ngặt và theo dõi chặt chẽ tại cơ sở có đủ năng lực chuyên môn.

BSCKII. Bùi Lê Phước Thu Thảo, Trưởng Trung tâm Điều trị Ung thư Hy Vọng FV, trình bày vai trò của hội chẩn đa chuyên khoa và các chiến lược điều trị ung thư trực tràng.
Phẫu thuật nội soi ung thư trực tràng: Kết quả từ 32 bệnh nhân
ThS.BSCKII. Ngô Việt Thắng – Bác sĩ điều trị cấp cao, Khoa Ngoại Tổng quát, Bệnh viện FV trình bày kết quả phẫu thuật nội soi cắt trước thấp ở 32 bệnh nhân ung thư trực tràng sau xạ trị tân bổ trợ. Tỷ lệ cắt u với diện cắt không có tế bào ung thư (R0) đạt 96,9%; số lượng nạo vét được trung bình là 17,84 hạch.
Sau 2 năm theo dõi, tỷ lệ sống còn toàn bộ đạt 93,8% và sống còn không bệnh đạt 90,6%. Báo cáo không ghi nhận tai biến trong mổ ở nhóm bệnh nhân này.
Các số liệu cho thấy kết quả khả quan trong nhóm được nghiên cứu. Tuy nhiên, quy mô 32 bệnh nhân và thời gian theo dõi 2 năm cần được cân nhắc khi đánh giá hiệu quả lâu dài.

ThS.BSCKII. Ngô Việt Thắng, Bác sĩ điều trị cấp cao, Khoa Ngoại Tổng quát FV, chia sẻ kết quả phẫu thuật nội soi ung thư trực tràng sau xạ trị tân bổ trợ.
Kết hợp công nghệ và chuyên môn trong điều trị ung thư
Năm báo cáo tại hội thảo cho thấy điều trị ung thư tiêu hóa hiện đại đòi hỏi sự kết hợp giữa kỹ thuật phẫu thuật, bằng chứng lâm sàng và phối hợp đa chuyên khoa.
Phẫu thuật robot có thể hỗ trợ những thao tác phức tạp; các chiến lược hóa trị, xạ trị và phẫu thuật cần được phối hợp theo tình trạng bệnh; trong khi những phương pháp bảo tồn cơ quan mở ra thêm lựa chọn cho bệnh nhân phù hợp.

Các diễn giả trao đổi về kinh nghiệm lâm sàng, lựa chọn chiến lược điều trị và những cân nhắc trong thực hành ung thư học hiện đại.
Thông qua các chương trình Đào tạo Y khoa Liên tục, Bệnh viện FV thúc đẩy trao đổi chuyên môn, cập nhật kiến thức và chia sẻ kinh nghiệm lâm sàng, hướng đến mục tiêu nâng cao chất lượng điều trị, an toàn và chất lượng sống cho người bệnh.
