Tầm soát các bệnh lý động mạch thường gặp

Phình động mạch chủ bụng

Phình động mạch chủ là một điểm yếu trên thành động mạch chủ — động mạch chính đưa máu từ tim đến đầu và các chi — thường gặp nhất ở đoạn bụng của động mạch này. Vùng thành mạch bị suy yếu sẽ giãn rộng ra và được gọi là phình mạch (aneurysm). Trong phần lớn các trường hợp, không có triệu chứng cảnh báo. Nguy cơ là túi phình  cuối cùng sẽ vỡ, gây xuất huyết nội  ồ ạt và suy tuần hoàn hoàn toàn, dẫn đến nguy cơ tử vong cao.

Một khảo sát không xâm lấn gọi là siêu âm bụng có thể phát hiện sự hiện diện của phình động mạch chủ bụng và xác định khi nào túi phình trở nên nguy hiểm và cần phải điều trị.

Bệnh động mạch cảnh

Các động mạch cảnh là một cặp mạch máu đưa máu lên não và vùng đầu. Bệnh động mạch cảnh xảy ra khi các mảng lắng dạng mỡ và sáp gọi là “mảng xơ vữa” làm tắc nghẽn các động mạch này và cản trở dòng máu lên não.

Các động mạch cảnh là một cặp mạch máu đưa máu lên não và vùng đầu. Bệnh động mạch cảnh xảy ra khi các mảng lắng dạng mỡ và sáp gọi là “mảng xơ vữa” làm tắc nghẽn các động mạch này và cản trở dòng máu lên não. Tình trạng này phát triển chậm và thường không được nhận biết do không có triệu chứng. Bệnh thường được phát hiện sau khi xảy ra đột quỵ, mặc dù một số bệnh nhân có các cơn thiếu máu não thoáng qua (Transient Ischemic Attacks – TIA), đôi khi còn được gọi là “đột quỵ nhẹ”. Đột quỵ có thể gây ra các triệu chứng sau:

  • Tê hoặc yếu đột ngột ở mặt hoặc các chi, thường chỉ ở một bên cơ thể;
  • Nói khó và hiểu chậm;
  • Đột ngột giảm thị lực một hoặc hai mắt;
  • Chóng mặt hoặc mất thăng bằng;
  • Đột ngột đau đầu dữ dội không rõ nguyên nhân.

Siêu âm Doppler là một phương pháp kiểm tra không xâm lấn giúp phát hiện chỗ hẹp này trên động mạch cảnh.

Tầm soát: siêu âm Doppler và siêu âm ổ bụng tầm soát hằng năm

Phình động mạch chủ bụng và bệnh động mạch cảnh phát triển ở những bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ. Các yếu tố nguy cơ chính của hai tình trạng này bao gồm hút thuốc lá, tăng huyết áp, đái tháo đường và rối loạn lipid máu. Tỷ lệ mắc các yếu tố nguy cơ này ở người Việt Nam là cao.

Vì các tình trạng này KHÔNG CÓ TRIỆU CHỨNG trong thời gian dài, nên cần được phát hiện chủ động, vì khi các triệu chứng xuất hiện thì thường đã quá muộn, do các biểu hiện thường rất nghiêm trọng đi kèm với tình trạng tàn phế do đột quỵ và tử vong do phình động mạch chủ.

Việc phát hiện chúng rất dễ dàng chỉ bằng siêu âm Doppler động mạch cảnh và siêu âm ổ bụng — hai khảo sát này không xâm lấn và chi phí thấp.

Tất cả bệnh nhân có yếu tố nguy cơ phải được tầm soát hằng năm bằng siêu âm Doppler động mạch cảnh và siêu âm ổ bụng khi trên 50 tuổi; một số bệnh nhân có yếu tố nguy cơ nghiêm trọng nên được tầm soát từ sớm hơn, khi còn trẻ tuổi hơn.

Các yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch là gì và cần làm gì nếu bạn có một trong số những yếu tố này?

Các yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch là các thói quen, hành vi, hoàn cảnh hoặc tình trạng làm tăng nguy cơ một người mắc bệnh tim mạch. Chúng bao gồm:

  • Thiếu vận động
  • Hút thuốc lá
  • Đái tháo đường
  • Tăng huyết áp
  • Thừa cân
  • Rối loạn lipid máu như tăng cholesterol LDL (cholesterol ‘xấu’)
  • Thói quen ăn uống không lành mạnh (ăn đêm, ăn vặt liên tục, thức ăn nhanh, tiêu thụ quá nhiều muối, chất béo bão hòa và đường)
  • Tiền sử nhồi máu cơ tim
  • Nam trên 50 tuổi và nữ trên 60 tuổi
  • Tiền sử gia đình
  • Chủng tộc/sắc tộc (người da đen không phải gốc Hispanic > người da trắng không phải gốc Hispanic > người châu Á).

Việc có một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch của một người; tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là bệnh tim mạch là không thể tránh khỏi.

Mặc dù có nhiều công cụ và bảng tính / đánh giá nguy cơ bệnh tim mạch trên mạng, cách duy nhất để đánh giá chính xác nguy cơ của một cá nhân là được bác sĩ thăm khám, người có thể chỉ định, nếu cần thiết, các khảo sát chẩn đoán như siêu âm động mạch ngoại biên và chụp cắt lớp mạch vành (coronary angioscan) để đánh giá xơ vữa động mạch và nguy cơ bệnh tim mạch.

Zalo
Facebook messenger