Kỷ nguyên “cá thể hóa” đang thay đổi cách điều trị ung thư phổi. Thông qua phân tích đặc điểm sinh học phân tử của từng khối u, các bác sĩ tại Bệnh viện FV có thể lựa chọn phác đồ phù hợp hơn cho từng bệnh nhân, thay vì điều trị phác đồ chung như trước đây.
Bản đồ sinh học phân tử: Tìm “mã định danh” để điều trị trúng đích
Trước đây, ung thư phổi không tế bào nhỏ thường được điều trị bằng một phác đồ chuẩn, điều này làm hiệu quả điều trị bị hạn chế. Sự phát triển của sinh học phân tử đã thay đổi hoàn toàn cục diện này.
ThS.BS Võ Kim Điền, Phó Trưởng Trung tâm Điều trị Ung thư Hy Vọng Bệnh viện FV cho biết, bệnh nhân ung thư phổi hiện được phân nhóm chi tiết theo đột biến gene (EGFR, ALK, KRAS, ROS1…) hoặc mức biểu hiện protein PD-L1 để chọn thuốc phù hợp nhất cho từng người bệnh.
“Xét nghiệm sinh học phân tử là bước bắt buộc trước khi lên phác đồ. Xác định đúng đột biến gì giúp bác sĩ chọn chính xác thuốc nhắm trúng đích thế hệ mới, tối ưu hóa thời gian sống cho bệnh nhân”, bác sĩ Điền nhấn mạnh.
Tại châu Á, đột biến gene EGFR chiếm 14%- 46% bệnh nhân ung thư phổi. Đáng chú ý, đây là tác nhân sinh học chính được tìm thấy ở nhóm bệnh nhân nữ dù không có tiền sử hút thuốc lá. Bên cạnh vai trò kiểm soát bệnh ở giai đoạn tiến triển, thuốc trúng đích được ứng dụng trong điều trị bổ trợ cho giai đoạn sớm, giúp củng cố kết quả phẫu thuật và phòng ngừa tái phát.

Liệu pháp điều trị cá thể hóa tại FV giúp bệnh nhân ung thư phổi kiểm soát bệnh. (Ảnh:FV)
ThS.BS Võ Thị Phương Thảo – Bác sĩ điều trị cấp cao, Trung tâm Hy Vọng chia sẻ về trường hợp một bệnh nhân nữ 48 tuổi, không hút thuốc, được phát hiện ung thư phổi ở giai đoạn sớm và có đột biến gene EGFR. Sau khi xây dựng phác đồ điều trị cá thể hóa, bệnh nhân được hóa trị bổ trợ 4 đợt kết hợp dùng thuốc trúng đích trong 3 năm. Đến nay, sau hơn 53 tháng theo dõi, bệnh nhân vẫn khỏe mạnh, không ghi nhận dấu hiệu tái phát hay tiến triển bệnh.
Một trường hợp khác là bệnh nhân nữ (sinh năm 1964), ung thư phổi di căn từ năm 2018. Nhờ phát hiện đột biến gene và duy trì uống thuốc trúng đích, đến nay bà vẫn sống khỏe mạnh sau nhiều năm kiểm soát tế bào ác tính.
Robot Da Vinci Xi: phẫu thuật tinh vi và bảo tồn chức năng phổi
Bên cạnh điều trị nội khoa, Ngoại khoa lồng ngực cũng đang chuyển mình mạnh mẽ nhờ công nghệ robot và chiến lược can thiệp sớm.
TS.BS.CKII Đặng Đình Minh Thanh, Trưởng khoa Phẫu thuật Lồng ngực kiêm Trưởng Trung tâm Phẫu thuật Robot FV da Vinci phân tích, với những nốt phổi nhỏ dưới 3cm nằm sâu trong phổi nhưng có dấu hiệu nghi ngờ ung thư, việc sinh thiết bằng kim xuyên thành ngực đôi khi có thể gây biến chứng như tràn khí màng phổi hoặc cho kết quả âm tính giả.
“Giải pháp tối ưu là phẫu thuật ít xâm lấn kết hợp sinh thiết lạnh tức thì (Frozen section) ngay trong mổ. Kết quả có sau vài chục phút giúp bác sĩ quyết định phạm vi cắt bỏ và nạo hạch ngay trong một lần phẫu thuật, vừa sạch tế bào ác tính vừa bảo tồn tối đa mô phổi khỏe mạnh của bệnh nhân”, bác sĩ Thanh cho biết.
Tại FV, chiến lược này được thực hiện chuẩn xác nhờ hệ thống Robot Da Vinci Xi, giúp thao tác tinh vi trong không gian hẹp của cơ thể, kiểm soát tốt các mạch máu lớn, giúp bệnh nhân hồi phục nhanh hơn sau mổ.

Bác sĩ FV cắt u phổi bằng robot Da Vinci Xi. (Ảnh: FV)
Bác sĩ Thanh chia sẻ trường hợp bệnh nhân nữ 68 tuổi có tổn thương nốt phổi đặc nghi ngờ ác tính. Ứng dụng robot Da Vinci Xi kết hợp sinh thiết tức thì trong mổ, ê-kíp đã cắt chính xác phần phổi chứa khối u, loại bỏ hoàn toàn tổn thương nghi ngờ ung thư, đồng thời kiểm tra cho thấy vùng cắt và hạch chưa ghi nhận tế bào ác tính. Cụ bà hồi phục ngoạn mục sau mổ và bảo tồn được vẹn toàn chức năng hô hấp.
Một trường hợp khác, bệnh nhân có nốt phổi nhỏ được theo dõi suốt 17 tháng vì nghi ngờ lành tính. Sau nhiều lần sinh thiết trước mổ kết quả không rõ ràng, bệnh nhân được phẫu thuật, khối u sau đó xác định là ung thư. Bác sĩ Thanh nhấn mạnh: việc cá thể hóa chiến lược can thiệp ngoại khoa bằng Robot kết hợp sinh thiết tức thì sớm đối với tổn thương dưới 3cm giúp điều trị sớm, tăng cơ hội thành công, giảm chi phí đáng kể cho người bệnh.
Liệu pháp Metronomic cho bệnh nhân lớn tuổi, thể trạng yếu
Một mảnh ghép nhân văn trong bức tranh cá thể hóa tại FV là giải pháp dành cho những bệnh nhân không đủ điều kiện để đại phẫu, hóa trị liều cao hoặc không có đột biến gene để dùng thuốc trúng đích. Theo bác sĩ Điền, với nhóm bệnh nhân lớn tuổi nhiều bệnh nền hoặc thể trạng suy kiệt, FV triển khai liệu pháp Metronomic bằng thuốc uống liều thấp và liên tục. Khác với hóa trị truyền thống dùng liều cao theo từng đợt, liệu pháp này đưa thuốc vào cơ thể đều đặn nhằm kìm hãm sự phát triển của khối u, đồng thời giảm tối đa tác dụng phụ.
Kết quả triển khai phương pháp này tại FV đã minh chứng là giải pháp tối ưu giúp duy trì thời gian ổn định bệnh lý, tối thiểu hóa tác dụng phụ, mang lại cơ hội kéo dài sự sống cho những bệnh nhân không thể dung nạp phác đồ liều cao.

Bác sĩ tại Trung tâm điều trị ung thư Hy Vọng hội chẩn phương pháp điều trị cho bệnh nhân. (Ảnh:FV)
Làm chủ xu hướng cá thể hóa trong điều trị ung thư phổi
Điều trị ung thư phổi hiện đại không còn là câu chuyện của riêng một chuyên khoa mà là sự phối hợp đa mô thức chặt chẽ để “đo ni” phác đồ cho từng cá nhân. Để cập nhật và chia sẻ kinh nghiệm tới cộng đồng y khoa trong nước, ngày 23/05/2026 Bệnh viện FV tổ chức Hội thảo CME “Cá thể hóa điều trị ung thư phổi: Từ lý thuyết đến thực tiễn lâm sàng”.

Hội thảo “Cá thể hóa điều trị ung thư phổi: Từ lý thuyết đến thực tiễn lâm sàng” do Bệnh viện FV tổ chức ngày 23/5. (Ảnh:FV)
Hội thảo có sự đồng hành của các tên tuổi lớn như PGS.TS.BS Lê Thượng Vũ – Trưởng khoa Hô Hấp, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM, TS.BS Nguyễn Duy Sinh – Giám đốc Y khoa Gene Solutions Việt Nam, cùng đội ngũ chuyên gia của FV: ThS.BS Vũ Trường Sơn (Giám đốc Y khoa), Bác sĩ Basma M’Barek (Trưởng Trung tâm Điều trị Ung thư Hy Vọng) và ekip bác sĩ thuộc trung tâm Hy vọng, gồm ThS.BS Võ Kim Điền, ThS.BS Võ Thị Phương Thảo, TS.BS.CKII Đặng Đình Minh Thanh – Trưởng khoa Phẫu thuật Lồng ngực kiêm Trưởng Trung tâm Phẫu thuật Robot FV da Vinci.
Đây là một trong các hoạt động học thuật chuyên sâu của FV nhằm lan tỏa kinh nghiệm và cập nhật kiến thức mới cho cộng đồng y khoa nước nhà.